Khách sỉ hỏi giá 200 túi chuối sấy dẻo, mỗi túi 100 g. Người bán biết chuối tươi giá 9.000 đồng/kg, nhưng muốn báo đúng còn phải biết mua bao nhiêu chuối mới đóng đủ 200 túi đạt màu, đạt độ dẻo và đúng khối lượng. Để tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu, con số cần lấy làm mẫu số là lượng thành phẩm thực sự đóng gói được.
Giả sử xưởng mua 100 kg chuối và thu 20 kg hàng đạt. Nếu nguyên liệu, điện, nhân công, bao bì và phần chi phí chung của mẻ cộng lại thành 1,6 triệu đồng thì mỗi túi có giá thành 8.000 đồng. Chủ xưởng có thể áp dụng cách tính dưới đây cho máy sấy nhiệt đối lưu SUNSAY bằng cách thay số liệu từ phiếu mẻ của mình.

MỤC LỤC
Công thức tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu theo từng mẻ
Giá thành một kilôgam thành phẩm = Tổng chi phí sản xuất của mẻ ÷ Số kilôgam thành phẩm đạt quy cách.
Tử số bắt đầu từ tiền mua nguyên liệu, cộng các khoản phát sinh khi sơ chế, sấy, phân loại và đóng gói. Mẫu số lấy ở khâu kiểm tra cuối, sau khi sản phẩm đã nguội theo quy trình và xưởng đã loại phần hỏng.
Nếu khách đặt hàng đóng túi, có thể lấy tổng chi phí chia thẳng cho số túi đạt chuẩn. Cách này tiện cho người báo giá vì kết quả có cùng đơn vị với đơn đặt hàng.
Khi nhận chuối, tổ sản xuất nên theo dõi ba khối lượng. Đầu tiên là lượng mua vào, tiếp theo là phần sau bóc vỏ thực sự đưa lên khay, cuối cùng là phần thành phẩm đạt. Chẳng hạn, 100 kg quả cho 65 kg chuối lát. Sau sấy cân được 21 kg, nhưng chỉ 20 kg đạt quy cách. Khi ấy, mỗi kilôgam hàng bán được cần 5 kg chuối mua vào. Lấy 65 kg nhân với giá mua sẽ bỏ sót tiền xưởng đã trả cho vỏ và quả bị loại.

Đo tiền điện của mẻ sấy bằng công tơ
Trên bảng thông số máy, kW là đơn vị công suất. Trên hóa đơn, kWh là đơn vị điện năng. Khi tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu, hãy ghi công tơ từ lúc bắt đầu gia nhiệt đến khi kết thúc phần làm nguội có dùng điện.
Lấy công suất lớn nhất nhân toàn bộ thời gian chạy dễ làm sai tiền điện vì bộ gia nhiệt có thể đóng ngắt, còn quạt làm việc theo lịch riêng.
Ví dụ, chỉ số tăng từ 1.240 lên 1.304 kWh thì nhóm thiết bị được đo đã tiêu thụ 64 kWh. Với đơn giá giả định 2.500 đồng/kWh, khoản tương ứng là 160.000 đồng. Nếu công tơ nhánh chỉ đo tủ sấy, cần cộng thêm điện máy thái và máy đóng gói. Nếu mẻ chạy vắt qua hai khung giá điện, hãy nhân số kWh ở từng khung với đơn giá áp dụng rồi cộng lại.
Đưa giờ công, bao bì và chi phí chung vào đúng chỗ
Một mẻ kéo dài tám giờ có thể chỉ cần hai người thao tác trong một số khoảng nhất định. Hãy ghi thời gian bóc vỏ, thái lát, xếp khay, ra hàng, đóng túi và vệ sinh. Hai người cùng xếp khay trong 30 phút tương đương một giờ công. Nếu xưởng bố trí người trực riêng cả đêm cho nhiều buồng, tiền ca cần phân bổ theo số buồng hoặc số giờ thực tế phụ trách.
Bao bì nên tính theo quy cách bán. Với 20 kg chuối sấy, xưởng cần 200 túi loại 100 g hoặc 40 túi loại 500 g. Giá túi, số nhãn và công hàn miệng đều thay đổi. Để tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu cho từng mã hàng, nên tách tiền đóng gói khỏi chi phí sấy chung. Khi khách chuyển từ mua túi nhỏ sang lấy hàng rời, người bán chỉ cần điều chỉnh những khoản thực sự thay đổi.

Ví dụ tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu cho 100 kg chuối
Giả sử xưởng đóng toàn bộ 20 kg chuối đạt chuẩn vào túi 100 g. Trong bảng, 64 kWh là tổng lượng điện sản xuất quy cho mẻ. Các đơn giá, tỷ lệ thu hồi và mức tiêu thụ là số liệu minh họa để người đọc thay bằng dữ liệu của xưởng.
| Khoản chi | Cách tính | Thành tiền |
|---|---|---|
| Chuối tươi | 100 kg × 9.000 đồng | 900.000 đồng |
| Điện sản xuất | 64 kWh × 2.500 đồng | 160.000 đồng |
| Nhân công trực tiếp | 4 giờ công × 40.000 đồng | 160.000 đồng |
| Túi và nhãn | 200 bộ × 1.000 đồng | 200.000 đồng |
| Nước, vệ sinh và vật tư phụ | Theo lượng dùng trong mẻ | 40.000 đồng |
| Chi phí cố định phân bổ | 2.800.000 đồng/tháng ÷ 20 mẻ tương đương | 140.000 đồng |
| Tổng cộng | 20 kg thành phẩm, tương đương 200 túi | 1.600.000 đồng |
Chia tổng tiền cho 20 kg, giá thành tại xưởng là 80.000 đồng/kg, tương đương 8.000 đồng/túi 100 g. Bao bì đã nằm trong bảng. Tiền mua 100 kg chuối cũng đã tính đủ nên nếu cộng thêm một tỷ lệ hao hụt vào cuối phép tính, xưởng sẽ tính trùng. Nếu phần lát vụn có người mua để làm bánh, hãy ghi riêng số tiền thu hồi trước khi xác định kết quả của mẻ.
Hai lô chuối chào hai mức giá, lô nào có lợi hơn?
Lô thứ nhất có giá 9.000 đồng/kg và cho 20 kg hàng đạt từ 100 kg quả. Riêng tiền chuối là 45.000 đồng/kg thành phẩm. Lô thứ hai có giá 8.500 đồng/kg, nhưng từ 100 kg chỉ thu được 17 kg hàng đạt. Tiền chuối tăng lên 50.000 đồng/kg thành phẩm. Khoản tiết kiệm 500 đồng trên mỗi kilôgam quả tươi hóa ra làm xưởng tốn thêm 5.000 đồng cho mỗi kilôgam chuối sấy bán được.
Để dùng kết quả tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu vào quyết định thu mua, hai lô cần được thử ở cùng độ dày lát và cùng yêu cầu độ dẻo. Nếu lô rẻ hơn có nhiều quả bầm phải sửa bằng tay, hãy ghi cả giờ công phát sinh. Ngược lại, nếu khách chấp nhận mua phần lát gãy theo quy cách riêng, nên tính cả giá trị của phần hàng đó.

Từ giá thành một mẻ đến giá báo khách sỉ
Giả sử giá chuối tăng 2.000 đồng/kg nhưng tỷ lệ thu hồi giữ nguyên. Chi phí mẻ tăng 200.000 đồng, tương đương 1.000 đồng cho mỗi túi. Trong khi đó, giảm được 10 kWh ở cùng sản lượng chỉ tiết kiệm 25.000 đồng/mẻ, hay 125 đồng/túi. So sánh hai khoản chênh giúp chủ xưởng biết nên ưu tiên đàm phán giá chuối, cải thiện tỷ lệ thu hồi hay giảm điện năng.
Một tình huống khác là mẻ chỉ đóng được 18 kg. Nếu các khoản khác giữ nguyên, xưởng dùng 180 bộ túi và nhãn, tổng chi còn 1.580.000 đồng. Chia cho 18 kg, giá thành tăng lên khoảng 87.778 đồng/kg dù tổng tiền đã giảm. Với đơn giao tận kho, sau khi tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu, người bán còn cần tính cước, chiết khấu đã cam kết và phần lợi nhuận mong muốn trước khi chốt giá.
Cần ghi số liệu nào khi chạy thử máy sấy nhiệt đối lưu SUNSAY?
Khi làm việc với SUNSAY, hãy mang nguyên liệu đúng mùa, mẫu thành phẩm đã được khách duyệt và quy cách đóng gói. Đề nghị cân tải thực ở độ dày lát dự kiến, ghi thời gian chiếm máy, điện năng và lượng thành phẩm đạt. Nếu đang so hai cấu hình, mẫu ở hai mẻ thử phải đạt cùng mức chất lượng. Một mẻ kết thúc khi sản phẩm còn ẩm hơn sẽ nặng cân hơn và dễ làm giá thành trên giấy trông thấp hơn.
Cuối cùng, hãy tính chi phí sản xuất khi dùng máy sấy nhiệt đối lưu cho cả tháng ít đơn. Trong ví dụ trên, nếu chỉ chạy 10 mẻ thay vì 20 mẻ, chi phí cố định phân bổ tăng từ 140.000 lên 280.000 đồng/mẻ. Mỗi túi 100 g phải gánh thêm 700 đồng. Có hai mức giá thành cho mùa cao điểm và thấp điểm, chủ xưởng sẽ có cơ sở chọn cỡ máy SUNSAY và thương lượng số lượng tối thiểu cho từng đơn hàng.
Máy sấy nhiệt đối lưu SUNSAY!
Liên hệ báo giá và tư vấn về kỹ thuật sấy
Đối với các cơ sở chế biến và sản xuất thực phẩm, máy sấy SUNSAY không chỉ là thiết bị sấy mà còn là giải pháp toàn diện để nâng cao giá trị sản phẩm. Thiết bị giúp doanh nghiệp tạo ra sản phẩm sấy chất lượng cao, đáp ứng thị hiếu của thị trường tiêu dùng hiện đại và xuất khẩu, đồng thời tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm chi phí.
Với tất cả những lợi ích vượt trội này, máy sấy SUNSAY không chỉ giúp bảo quản thực phẩm mà còn nâng tầm giá trị sản phẩm, phù hợp với nhu cầu đa dạng từ quy mô gia đình đến các doanh nghiệp chế biến thực phẩm lớn.
Để được tư vấn chi tiết, hãy truy cập website: maysaylanh.com.vn hoặc liên hệ ngay số Hotline (Zalo): 0935.995.035 hoặc qua số tổng đài: 094.110.8888 để được hỗ trợ.








